Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Các dân tộc tỉnh Bắc Kạn

Dân tộc Tày

 

Dân tộc Tày

      Dân tộc Tày chiếm số lượng đông nhất trong các dân tộc của tỉnh Bắc Kạn, với 54% dân số. Dòng họ người Tày ở Bắc Kạn có nhiều nguồn gốc khác nhau. Phần đông là các họ gốc Tày. Bên cạnh đó còn có thêm các họ gốc từ dân tộc Nùng và Kinh. Người Tày ở Bắc Kạn chiếm số đông là các họ: Nông, Hà, Ma, Hoàng. Ít có dòng họ nào cư trú riêng biệt tại một vùng, ngay trong một bản cũng thường có ít nhất 2 - 3 họ cùng cư trú. Họ sống gắn bó, đoàn kết với nhau.

      Người Tày trong một họ thường được cố kết theo nhánh, chi. Không có tục làm giỗ tổ, thờ mộ tổ, cũng không có những quy định về thành viên cùng họ như người Thái. Mồ mả tổ tiên đã phân về nhánh nào, chi nào thì nhánh đó, chi đó thờ cúng và gìn giữ. Ngày kỵ từng người đã mất chỉ còn liên quan đến gia đình giữ mả.

      Thông thường trong một chi, một nhánh chỉ cố kết đến đời thứ 3. Từ đời thứ 4 trở đi sẽ phai nhạt dần. Tuy nhiên, các gia đình vừa là anh em, vừa là hàng xóm thì sự cố kết sẽ bền lâu, mặc dù huyết thống đã trải qua nhiều thế hệ.

      Người trong dòng họ - mặc dù đã xa, nhưng cũng ít kết hôn với nhau. Những cá nhân gặp hoạn nạn như bố mẹ chết khi còn nhỏ thì thường đến ở với bác hay chú ruột hay một người nào đó trong dòng họ để lấy chỗ nương tựa. Sau này coi người nuôi nấng mình khi còn nhỏ như bố - mẹ đẻ.

      Tết của dân tộc Tày Bắc Kạn cũng khá đặc trưng. Vào ngày 27, 28 tháng chạp âm lịch, các gia đình dân tộc Tày đã nhộn nhịp thịt lợn, gói bánh chưng. Những con lợn to nhất được chọn thịt trong ngày tết. Thịt lợn được chế biến thành nhiều món ăn khác nhau như thịt lam, thịt treo gác bếp, lạp sườn, thịt ướp muối gừng… và một phần để gói bánh chưng. Người Tày không gói bánh chưng vuông như người Kinh mà gói bánh chưng dài. Những tàu lá dong xanh mướt được chọn lựa kỹ càng, gạo nếp phải là nếp hái được chọn từng bông ngoài ruộng cùng thịt lợn béo, đỗ xanh, lạt giang. Nhà khá giả nhất định không thiếu được hai loại bánh làm công phu là pẻng phạ (bánh trời), Khẩu shi (bánh bỏng) trông bên ngoài giống như bỏng ngô ép mật dưới xuôi nhưng hương vị thì đặc biệt hơn rất nhiều. Đặc biệt, người Tày rất tự trọng và mến khách (nhất là khách ở xa), vì thế bạn không bao giờ nên ra khỏi nhà của họ vào những ngày Tết mà chưa uống cạn một vài chén rượu men lá với gia chủ. Rượu có nồng độ vừa phải, thơm mùi rừng núi, là thứ nước uống chính suốt cả tháng trời.

Dân tộc Nùng

      Người Nùng trồng lúa tẻ là chủ yếu, lúa nếp được trồng ít, sau lúa tẻ là ngô, ngoài ra còn có khoai, sắn. Vào những tháng giáp hạt hay những năm mất mùa, nhiều khi ngô là thành phần chủ yếu trong bữa ăn hàng ngày. Thứ đến là sắn và khoai dùng để độn trong bữa chính hoặc ăn vào bữa phụ.

      Người Nùng chủ yếu ăn cơm tẻ. Cơm tẻ được nấu tương tự như các dân tộc khác. Ngoài ra, họ rất thích ăn loại cháo gạo tẻ đặc gọi là “chúc cạn”. Vào mùa hè bữa trưa ngoài nồi cơm tẻ, ở các gia đình thường thấy có thêm một nồi cháo đặc.

      Cơm nếp không được dùng thường xuyên như người Thái, người Lào, nhưng người Nùng cũng là một dân tộc hay ăn cơm nếp. Nếp được chế biến theo nhiều cách, phổ biến là đồ, đôi khi cũng được nấu như cách nấu cơm tẻ. Đặc biệt trong dịp tết, sinh nhật, cưới xin, bà con thường hay ăn xôi. Những dịp gia đình cần đông người làm giúp như gặt hái, cấy lúa, làm nhà cũng thường đồ xôi. Từ gạo nếp họ làm nhiều loại xôi, bánh khác nhau. Trong một năm có nhiều ngày tết, mỗi ngày tết có các thứ xôi, bánh mang tính đặc trưng, có hương vị và ý nghĩa riêng.

      Cách thức chế biến rau xanh, thịt cá cũng có những nét độc đáo. Bà con ít ăn món luộc, các món rau thường được xào khan với mỡ. Thịt, cá thì phổ biến là món rán, nấu, hầm cách thuỷ, ít làm món kho mặn. Người Nùng không ăn thịt trâu, thịt bò và thịt chó.

      Thức uống của người Nùng trước đây chủ yếu là nước lã, đến nay đã nhiều người bỏ thói quen đó. Bà con hay uống nước đun sôi để nguội, bên cạnh đó nước trà cũng dần trở nên thông dụng. Trong các dịp lễ tết, cưới xin, sinh nhật, tiếp khách từ xa đến rượu là thứ đồ uống không thể thiếu. Rượu có hai loại: Rượu cất người Nùng gọi là “lẩu sliêu”, cách làm cũng giống người Tày. Rượu ủ “lẩu mộng” cũng được ủ như loại rượu cất nhưng phải làm bằng gạo nếp và loại men riêng. Sau khi cơm rượu đã lên men kỹ, người ta cho vào chum 2-3 ngày thì đổ nước nguội vào, miệng chum được bịt kín. Khi dùng người ta múc lấy nước, lọc bỏ phần cái lại, loại rượu này có mùi vị thơm như rượu cần của người Thái, người Mường.

      Cũng như các dân tộc khác , dân tộc Nùng Bắc Kạn cũng có những nghi lễ về việc hiếu rất riêng. Dân tộc Nùng quan niệm khi người thân chút hơi thở cuối cùng là lúc chia tay với trần gian để về cõi âm, do vậy con cháu sẽ mời thầy cúng về để làm các thủ tục tiễn đưa linh hồn của người đã chết về nơi an nghỉ cuối cùng được suôn sẻ. Để báo hiếu cho người đã chết con cháu phải làm đầy đủ nghi lễ không được để sót bất cứ bước nào.

      Nghi lễ ma chay của người Nùng ngày nay đã tiến bộ hơn trước đây rất nhiều, tuy nhiên ở một số nơi vùng sâu , vùng xa vẫn còn nặng nề cần được dần dần loại bỏ.

Dân tộc Mông

      Hàng ngày đối với đồng bào Mông, bữa ăn sáng là bữa phụ, hai bữa chính là trưa và tối. Lương thực chủ yếu của họ là ngô. Vì thế, đồ bột ngô ăn thay cơm gạo là tập quán của người Mông, đồng bào gọi là mèn mén. Ngô được xay thành bột, trộn nước cho đủ ẩm rồi nhào bột đồ chín lần đầu, đổ ra cho nguội, lại cho chút nước nhào đều và đồ tiếp lần nữa.

      Bột chín được đổ vào rá rồi dùng thìa xúc ăn với nước canh, rau, thịt và các thức ăn khác. Đồng bào còn dùng ngô non, thái hạt, xay nhuyễn hoặc dùng bột ngô nếp làm bánh rợm, bánh trôi. Món ăn phổ thông được đồng bào ưa dùng là đỗ tương xay thành bột đun sôi, cho ít nước chua và rau vào nấu chín làm canh. Món ăn khô là lạc, vừng rang. Các loại thịt được nấu, nướng hoặc hầm nhừ với gia vị nhưng không có tập quán làm thắng cố như vùng Hà Giang và Tây Bắc. Thịt để dành lâu ngày được ướp muối, phơi hoặc sấy khô trên gác bếp. Do điều kiện sống trên núi nên ngoài thịt thú rừng, thịt gia súc, gia cầm, trứng gà, vịt, hiếm khi đồng bào được ăn ốc, cá. Các loại rau rừng như bồ khai, rau ngót rừng, các loại nấm, măng, hoa chuối, lõi non thân chuối, các loại quả bứa, vả, dâu da thường được xào nấu hoặc ăn sống như các loại quả cây.

      Đồ uống hàng ngày là nước đun sôi để nguội, hoặc nướng quả ngô cháy vàng cho vào nồi nước sôi để dùng như nước chè nhưng có chút mùi khét, vị ngọt; hoặc uống chè dây là cây dây leo bò, mọc hoang ở rừng núi. Do du canh du cư không trồng được chè, đồng bào thường mua chè để uống, tiếp khách. Nhiều khi đi rừng, làm nương rẫy họ còn phải uống nước khe suối.

      Rượu được rất nhiều người ưa dùng, thậm chí nam giới thường dùng hàng ngày. Các dịp cưới xin, cúng ma, tiếp khách và các ngày tết không thể thiếu rượu. Đồng bào ưa dùng rượu cất từ ngô. Ngoài ra cũng có người cất rượu lên men từ mì, mạch, sắn, chuối và các cây có bột trong rừng. Nam giới ưa dùng rượu có nồng độ cao. Phụ nữ lại hay dùng rượu nếp, rượu chưa cất.

Dân tộc Dao

      Là cư dân nương rẫy, trước đây người Dao thường ăn hai bữa chính ở nhà, bữa sáng vào khoảng 6 giờ, bữa tối khoảng 19 - 20 giờ. Bữa trưa họ thường ăn cơm gói tại nương rẫy. Lương thực chính là gạo, bao gồm cả gạo tẻ và gạo nếp. Sau gạo, nguồn lương thực quan trọng thứ hai là ngô. Ngô thường được xay thành bột để nấu cháo đặc. Ngoài ra, khi thiếu đói họ còn tìm các loại củ như củ mài, củ bấu hoặc các loại bột như bột đao, bột báng để chế biến đồ ăn.

      Người Dao có tục chia làm hai mâm trong khi ăn. Gian trước bàn thờ được bố trí bàn ăn cho nam giới và khách. Nữ giới ăn ở gian bên trong và thường được bố trí ngồi ở một chiếc bàn thấp. Nồi cơm được để ở gần chân cột nhà, giữa khoảng cách của 2 mâm. Gian ngoài (chỗ ăn của nam giới) và gian trong (chỗ ăn của nữ giới) được ngăn bằng một miếng liếp nhỏ, thấp. Đối với các bữa ăn khi gia đình có khách, cô gái ở gian trong thỉnh thoảng đứng dậy quan sát mâm cơm qua vách ngăn này, nếu thấy các bát đựng thức ăn đã vơi, họ sẽ chủ động tiếp thêm chứ không bao giờ để người trong mâm phải đứng dậy lấy hoặc gọi tiếp. Trong bữa ăn thường ngày, ai có nhu cầu ăn cơm tiếp thì tự đi xúc lấy. Khi gia đình có khách quý, ngoài việc chuẩn bị thêm 1 - 2 đồ ăn ngon họ luôn bố trí một bát to đựng cơm cho khách tự xẻ. Cơm của người Dao nấu thường nhiều nước.

      Thức ăn chủ yếu là các loại rau rừng và rau tự trồng. Rau tự trồng thường là ngọn bí, quả bí, rau cải và một số loại đỗ, khoai. Nguồn rau chủ yếu là các loại măng, bồ khai, ngót rừng và một số loại lá cây có tác dụng chữa bệnh gan, thận. Cách chế biến chủ yếu là xào, luộc hoặc nấu canh. Việc ninh nhừ ít được thực hiện. Thịt được ăn rất dè xẻn, tiết kiệm do trước đây đời sống kinh tế còn hết sức khó khăn.

      Trong sinh hoạt hàng ngày, đồng bào Dao thường uống nước chè. Chè được hái từ các cây cổ thụ, gọi là chè tuyết. Hái xong, họ sao chè trong các chảo gang cho đến khi khô thì đút vào ống nứa to, bịt kín lại và để trên gác bếp.

      Loại đồ uống phổ biến thứ hai trong sinh hoạt của người Dao là rượu. Rượu được dùng khi tiếp khách, làm lễ, hay dùng uống sau khi lao động mệt nhọc và trong các bữa ăn.

      Nhìn chung, đồng bào người Dao rất coi trọng việc ăn uống trong dịp tết, nhất là tết Thanh minh, rằm Tháng bảy và tết Nguyên đán. Đây là các kỳ nghỉ lao động, sản xuất. Do vậy, bà con thường chuẩn bị thực phẩm hết sức công phu, cách chế biến món ăn cũng đa dạng và cầu kỳ.

Dân tộc Hoa      

      Người Hoa rất thạo việc nấu nướng nên trong bếp thường có các loại xoong, nồi, chảo, cối xay đá dùng để chế biến các loại bánh trong những ngày lễ tết, chợ phiên… Những món ăn truyền thống của người Hoa có thể kể đến là món xá xíu, khâu nhục, lợn quay, khâu xao.

      Điển hình là món khâu nhục được chế biến một cách công phu, cầu kỳ. Nguyên liệu làm món khâu nhục là thịt lợn ba chỉ. Cách làm là rửa sạch thịt lợn rồi đem luộc cho vừa chín tới. Sau đó dùng que nhọn chọc chi chít lên mặt da nhằm làm cho gia vị khi ướp ngấm đều vào miếng thịt (khi rán sẽ phồng lên rất ngon). Gia vị gồm nước mắm, mì chính, húng lìu, xì dầu, gừng … Sau khi gia vị đã ngấm đều, thịt được đem vào chảo rán qua cho bớt mỡ. Tiếp theo là đồ ăn kèm quyết định đến vị ngon của món khâu nhục, đó là khoai rán, mộc nhĩ, đỗ xanh … Khoai tàu được gọt vỏ, thái thành miếng mỏng, rán có độ giòn vừa phải. Chuẩn bị xong, các loại gia vị được đặt dưới đáy bát, phủ những miếng thịt rán lên trên, hấp cách thuỷ cho chín rồi đem ăn. Đây là món ăn đòi hỏi kỹ thuật nấu nướng rất phức tạp nên trong những bữa tiệc quan trọng, gia chủ thường mời những người có kinh nghiệm nấu ăn đến làm giúp.

      Những ngày giáp phiên chợ Phủ Thông, Nà Phặc, Bằng Vân, các gia đình người Hoa luôn bận rộn với công việc như làm phở, làm bánh bò, bánh bỏng, kẹo, bánh khảo, vịt quay… góp phần làm cho không khí họp chợ trở nên sôi động, phong phú với nhiều hàng quà.

Dân tộc Sán Chay

      Người Sán Chay có tập quán ăn cơm tẻ, những khi mất mùa hoặc lúc đói kém mới ăn ngô, khoai, sắn, củ quả ở rừng. Hằng ngày ăn hai bữa chính là trưa và tối, bữa phụ ăn lúc sáng dậy trước khi đi làm, nhưng không thành bữa mà thường có gì ăn nấy. Mấy chục năm trước trong các bữa cơm có thêm nồi cháo, sau khi ăn cơm mỗi người có thể phụ thêm 1 - 2 bát cháo loãng.

      Ngoài cơm ăn hàng ngày, đồng bào còn dùng các món ăn như luộc hoặc nướng ngô, khoai, sắn hoặc từ gạo tẻ, gạo nếp chế biến làm các loại bánh, xôi, bỏng, bún nhất là vào các dịp tết, cưới xin, ma chay.

      Tết Nguyên đán thường làm bánh chưng, bánh khảo, bánh gio, bánh rán, bỏng. Tết tháng ba (3/3 âm lịch) thường làm xôi đỏ, đen bằng lá cẩm, lá cây sau sau; làm bánh rợm nhân trứng kiến hấp với lá vả. Tết tháng 5 (5/5) làm xôi, bún, xôi lá gừng thơm. Tết tháng 7 (14/7) làm bánh chưng nhân đỗ, xôi trám đen, bánh rợm hoà với tinh bột lá cây mơ lông hoặc lá gai. Tháng chín đồng bào thường làm cốm và bánh cốm.

      Thu hoạch vụ mùa xong đồng bào còn làm bánh dầy, bún để mừng vụ lúa mùa kết thúc. Đồng bào còn dùng đỗ tương để làm giá, làm đậu phụ, làm tương.

      Các loại rau quả theo mùa vụ, ngoài vườn rau tự túc, đồng bào thường kiếm rau rừng như hoa chuối, rau ngót rừng, bồ khai, măng, nấm.

      Các loại gia vị đồng bào thường dùng là ớt, hành, hẹ, các loại rau thơm, rau mùi góp phần tạo nên sự khoái khẩu trong các bữa ăn.

      Đồ uống hàng ngày là nước đun sôi để nguội, nước chè. Mùa hè có thêm nồi cháo loãng. Các dịp gặp mặt, cưới xin, làm nhà, tết… họ thường vui vẻ uống với nhau chén rượu được cất từ cơm gạo hoặc ngô lên men. Phụ nữ thường dùng rượu ngọt, rượu chưa cất.

Dân tộc Kinh

      Cũng như dân tộc kinh ở miền xuôi, Người Kinh ở Bắc Kạn có tập quán ăn trầu cau, hút thuốc lào, thuốc lá, uống nước chè, nước vối. Ngoài cơm tẻ, cơm nếp, còn có cháo, xôi. Mắm tôm, trứng vịt lộn là món ăn độc đáo của người Kinh.

      Trong gia đình người Kinh, người chồng (người cha) là chủ. Con cái lấy họ theo cha và họ hàng phía cha là “họ nội”, còn đằng mẹ là “họ ngoại”. Con trai đầu có trách nhiệm tổ chức thờ phụng cha mẹ, ông bà đã khuất. Mỗi họ có nhà thờ họ, có người trưởng họ quán xuyến việc chung. Hôn nhân theo chế độ một vợ một chồng. Việc cưới xin phải trải qua nhiều nghi thức, nhà trai hỏi vợ và cưới vợ cho con. Người Kinh coi trọng sự trinh tiết, đức hạnh của các cô dâu, đồng thời chú ý đến gia thế xuất thân của họ./.

Tác giả: 
Nguồn:  Tổng hợp

Tin bài mới: